Lịch sử tải xuống

STT Thành viên Thời gian
1 vũ đức ngọc Chủ nhật, Tháng 4 24, 2016 - 21:54
2 chu anh Thứ sáu, Tháng 7 8, 2016 - 16:50
3 Nguyen Dinh Phuc Thứ năm, Tháng 3 2, 2017 - 14:58
4 Nguyen Dinh Phuc Thứ năm, Tháng 3 2, 2017 - 14:58
5 Nguyen Dinh Phuc Thứ năm, Tháng 3 2, 2017 - 14:58
6 Nguyen Dinh Phuc Thứ năm, Tháng 3 2, 2017 - 14:58
7 Nguyen Dinh Phuc Thứ năm, Tháng 3 2, 2017 - 14:58

Xây dựng mô hình liên kết giữa công ty lữ hành và điểm du lịch làng nghề truyền thống Hà Tây

Ảnh của Trương Thế Diệu
Truong The Dieu(2,424 tài liệu)
(0 người theo dõi)
Lượt xem 15
7
Tải xuống
(Lịch sử tải xuống)
Image CAPTCHA
Nhập các ký tự hiển thị trong ảnh.
Số trang: 178 | Loại file: DOC
  • M Đ U
    1. Lý do ch n đ tài
    y n m phía tây nam th đô N i, m nh đ t
    ngu n tài nguyên du l ch t nhiên nhân văn phong phú, trong đó
    n i b t h th ng các làng ngh th công truy n th ng. Du l ch
    y đang đ ng tr c v n h i đ phát tri n l n m nh thông qua ướ
    các lo i hình du l ch c b n: Du l ch văn hóa, l h i; Du l ch sinh ơ
    thái, ngh d ng cu i tu n; Du l ch làng ngh . Xác đ nh phát tri n ưỡ
    du l ch làng ngh m t h ng đi quan tr ng đ s m đ a ngành du ướ ư
    l ch Tây tr thành ngành kinh t mũi nh n trong c c u kinh t ế ơ ế
    c a đ a ph ng. ươ
    Nh ng năm g n đây, du l ch làng ngh đã đang kh ng đ nh
    đ c v th và giá tr c a mình thông qua nh ng thành t u đ t đ cượ ế ượ
    nh ng d báo kh quan c a các chuyên gia kinh t , du l ch, ế
    h i h c. M t s làng ngh truy n th ng Tây đã th c s tr
    thành nh ng đi m du l ch n i ti ng trên c n c, đó nh ng làng ế ướ
    ngh du l ch: L a V n Phúc, nón làng Chuông, mây tre đan Phú
    Vinh, kh m trai Chuyên M , s n mài H Thái, thêu Qu t ơ
    Đ ng,...Đây b c phát tri n tích c c không ch thông qua nh ng ướ
    con s th ng còn đ c th hi n h t s c sinh đ ng qua th c ượ ế
    t v s l ng các ch ng trình du l ch, m c đ tăng tr ng duế ượ ươ ưở
    khách đ n làng ngh , thu nh p chính th c t du l ch, các công trìnhế
    ph c v cho ho t đ ng du l ch s chuy n bi n nh n th c - thái ế
    đ c a các c p chính quy n và nhân dân t i các làng ngh .
    Tuy nhiên do du l ch làng ngh lo i hình du l ch chuyên đ
    còn khá m i n c ta, v y th i gian qua l ng khách đ n tham ướ ượ ế
    quan du l ch các làng ngh còn th p so v i các lo i hình du l ch ch
    1
  • đ o khác c a t nh. Các d ch v ph c v khách đ n tham quan du ế
    l ch ch a phát tri n, h th ng c s h t ng làng ngh còn h n ch ư ơ ế
    v ch t l ng, ch a đáp ng đ c đ y đ cho nhu c u phát tri n ượ ư ượ
    du l ch v i t c đ nh hi n nay. So v i ti m năng, v trí c a làng ư
    ngh thì hi u qu kinh t đ t đ c còn nh , ch a th t t ng x ng. ế ượ ư ươ
    Lu n văn: “Xây d ng mô hình liên k t gi a công ty l hành ế
    đi m du l ch làng ngh truy n th ng Tây” đ c ti n hànhượ ế
    nghiên c u v i mong mu n góp ph n đ a ra nh ng lu n c khoa ư
    h c phát tri n du l ch làng ngh truy n th ng áp d ng tri n khai
    trong th c t đ khai thác hi u qu ngu n tài nguyên làng ngh ế
    truy n th ng góp ph n phát tri n kinh t h i Hà Tây nói riêng ế
    đ t n c nói chung. ướ
    T 01/8/2008 Tây đã đ c sát nh p v i Th đô Hà N i ượ
    nh ng trong ư lu n văn này tác gi ch nghiên c u trong ph m vi đ a gi i
    Hà y cũ (t nh Tây).
    2. L ch s nghiên c u v n đ
    Phát tri n du l ch Tây đã đ c khá nhi u tác gi nhân, ượ
    c quan trong ngoài ngành du l ch nghiên c u t nhi u năm quaơ
    b i đây “đi m đ n” v i ti m năng cùng đa d ng phong phú ế
    v tài nguyên du l ch t nhiên cũng nh tài nguyên du l ch nhân văn. ư
    th k đ n hàng lo t các công trình nghiên c u, h i th o liên ế
    quan đ n v n đ này nh : H i th o “Du l ch Tây phát tri nế ư
    nhanh, m nh, hi u qu , b n v ng” (8/2001) do s Du l ch Tây
    t ch c, h i th o “Phát tri n du l ch làng ngh truy n th ng
    Tây” (12/2003) do s Du l ch Tây t ch c v i s h tr c a
    T ng c c du l ch Vi t Nam U ban nhân dân t nh Tây, h i
    th o “Phát tri n du l ch làng ngh t i h i du l ch làng ngh truy n
    2
  • th ng Tây l n th 3 (12/2005); đ tài “Nghiên c u đánh giá kh
    năng khai thác gi i pháp phát tri n m t s làng ngh truy n
    th ng t i Hà Tây ph c v khách du l ch” c a tr ng Cao đ ng du ườ
    l ch N i ch trì ph i h p v i Vi n nghiên c u Qu n kinh t ế
    T cùng v i Trung tâm Công ngh thông tin du l ch S Du l chƯ
    Tây (2003), đ tài “Th c tr ng gi i pháp phát tri n du l ch
    làng ngh truy n th ng y” do S du l ch Tây ch trì
    (12/2005)…vv g n đây nh t công trình nghiên c u khoa h c
    công phu, tâm huy t ch t l ng chuyên môn cao c a ti n ế ượ ế
    Ph m Qu c S “Phát tri n du l ch làng ngh nghiên c u tr ng ườ
    h p t nh Tây đ c nhà xu t b n Đ i h c qu c gia N i xu t ượ
    b n năm 2007.
    Cùng nh ng suy nghĩ trăn tr v i vi c phát tri n du l ch
    Tây - m t vùng đ t đ c m nh danh vùng “đ t ngh ngo i ượ
    h ng” nh ng v i nh ng tìm tòi, h ng đi cách gi i quy t m i, ư ướ ế
    tác gi mu n đi tìm m t hình cho s phát tri n b n v ng c a
    làng ngh truy n th ng Hà Tây trong m i liên k t v i các công ty l ế
    hành ch không ch đ n thu n vi c m t mình Tây t “b n ơ ươ
    ch i”. Tác gi đã ý t ng dành nhi u công s c tìm ki m tài ưở ế
    li u cũng nh đi th c t kh o sát t i m t s làng ngh tiêu bi u ư ế
    c a Hà Tây và m t s làng ngh truy n th ng m t s đ a ph ng ươ
    khác đ t đó tìm ra th m nh riêng c a Tây trong vi c phát ế
    tri n du l ch làng ngh l i th c nh tranh v i các làng ngh đ a ế
    ph ng khác tr c các công ty l hành trong vi c h xây d ng cácươ ướ
    ch ng trình du l ch. ươ
    Xây d ng đ c m i liên k t - s i dây liên h “ràng bu c” ượ ế
    gi a công ty l hành làng ngh nh m mang l i l i ích cho c hai
    3

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 24/04/2016 , 18:41

Mô tả tài liệu:

Xây dựng mô hình liên kết giữa công ty lữ hành và điểm du lịch làng nghề truyền thống Hà Tây

CHƯƠNG 1 LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG HÀ TÂY VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN 1.1 Khái quát về Hà Tây Hà Tây thuộc vùng châu thổ Sông Hồng, là nơi có địa hình đa dạng với đồng bằng, trung du và vùng núi cùng với nhiều sông, suối và hồ như: sông Hồng, sông Đà, sông Nhuệ, sông Bùi, sông Tích, suối Hai, hồ Đồng Mô, hồ Quan Sơn,...Phía đông giáp thủ đô Hà Nội (nay thuộc địa phận Hà Nội), phía tây giáp Hòa Bình, phía bắc giáp hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc, phía nam giáp tỉnh Hà Nam. Đặc trưng của khí hậu Hà Tây là nhiệt đới gió mùa (thuộc vùng đồng bằng sông Hồng) với mùa đông khô hanh và lạnh, mùa hè nóng ẩm. Mùa nóng ẩm kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô hanh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Hà Tây có nhiều loại địa hình với đất có độ phì cao nên có thể bố trí trồng được nhiều loại cây ngắn ngày, dài ngày, cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi, cây ăn quả, trồng rừng. Rừng Hà Tây không lớn, nhưng rừng tự nhiên (vùng Ba Vì) có nhiều chủng loại thực vật phong phú, đa dạng, quí hiếm với 872 loài thực vật bậc cao thuộc 427 chi nằm trong 90 họ. Tuy nhiên, theo dự đoán của các nhà thực vật học, có tới trên 1.700 loài. Từ năm 1992, nhà nước đã công nhận khu vực rừng Ba Vì là vườn quốc gia. Khu vực rừng tự nhiên thuộc huyện Mĩ Đức (vùng Hương Sơn) cũng bao gồm nhiều chủng loại động, thực vật quí, hiếm. Cùng với việc nhà nước công nhận khu văn hoá - lịch sử - môi trường, rừng ở đây được phân loại thành rừng đặc dụng. Rừng tự nhiên được quản lý, tu bổ, cải tạo kết hợp với trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc sẽ là tài sản quí giá của Hà Tây và của cả nước. Điểm đặc biệt của Hà Tây trước đây là có đến 2 thành phố là Hà Đông và Sơn Tây (từ 01/8/2008 Hà Tây sát nhập về Hà Nội và hiện đang có dự kiến là quận Hà Đông và thị xã Sơn Tây), ngoài ra còn có 12 huyện gồm 324 xã, thị trấn với tổng diện tích đất tự nhiên là 2.192,95km2 với dân số là 2.575.000 người, mật độ 1.174 người/km2 tính đến năm 2007 khi Hà Tây chưa sát nhập với Hà Nội. (niên giám thống kê tỉnh Hà Tây năm 2007). Hà Tây là khu vực đông dân, có nguồn lao động dồi dào trên 1,1 triệu người, dân số nông thôn chiếm đại bộ phận (93%) và chủ yếu là nông nghiệp chiếm 82% tổng số dân và chiếm 80% số lao động xã hội. (niên giám thống kê tỉnh Hà Tây năm 2007). Lao động có trình độ thâm canh khá, nhiều nghề tinh xảo, nổi tiếng như dệt lụa (Vạn Phúc), rèn (Đa Sĩ), sơn mài, khảm, điêu khắc, thêu ren (vùng Thường Tín, Thanh Oai, Phú Xuyên)... Ở Hà Tây giao thông thuỷ, bộ khá phát triển thuận lợi cho giao lưu trong và ngoài tỉnh, có hơn 400 km đường sông, 43 km đường sắt, gần 3.000 km đường ôtô đến tất cả các xã. Những tuyến giao thông huyết mạch về đường bộ có đường 1A, đường số 6, đường 11A, đường 21, đường 32, đường 70, 71, 73...; đường sắt Bắc - Nam.; đường thuỷ có sông Hồng, sông Đà, sông Đáy. Với mạng lưới giao thông cả đường bộ và đường thủy là điều kiện cho phát triển du lịch bởi Hà Tây có trên 240 làng nghề với những sản phẩm đặc sắc và được nhiều người ưa chuộng như lụa Vạn Phúc, sơn mài Hạ Thái, tiện gỗ Nhị Khê, thêu Quất Động, nón Chuông, quạt Vác, khảm trai Chuyên Mỹ, mây tre Phú Vinh, đồ mộc Chàng Sơn, tượng gỗ Sơn Đồng, may Trạch Xá, đàn Đào Xá…v.v cùng với các lễ hội nổi tiếng như: Lễ hội chùa Hương (huyện Mỹ Đức) - một lễ hội dài và vui nhất Việt Nam thu hút khoảng gần một triệu khách mỗi năm; Lễ hội hát du tại huyện Quốc Oai cứ 36 năm mới được tổ chức một lần. Các lễ hội khác là hội chùa Thầy (huyện Quốc Oai) liên quan đến pháp sư Từ Đạo Hạnh, hội thả diều ở Bá Giang - Đan Phượng, hội chùa Tây Phương, hội chùa Đậu, hội đền Và, hội đền Hát Môn, chùa Bối Khê, chùa Trăm gian, chùa Mía (Sùng Nghiêm Tự), hội đền Thánh Tản Viên. Ngoài ra Hà Tây còn sở hữu nhiều danh thắng: Vườn quốc gia Ba Vì, ao Vua, Khoang xanh, suối Hai, Đồng Mô, Thiên Sơn - Suối Ngà (suối Ổi), Suối Ngọc - Vua Bà, Đầm Long, Bằng Tạ, Quan Sơn, Đồng Xương, Văn Sơn, lăng Ngô Quyền, lăng Phùng Hưng, thành cổ Sơn Tây. Có thể nói Hà Tây là vùng đất “màu mỡ” với nguồn tài nguyên vô cùng phong phú trong đó hầu hết đều có tiềm năng đưa vào khai thác cho hoạt dộng du lịch đặc biệt phải kể đến là các làng nghề truyền thống. 1.2 Các làng nghề truyền thống Hà Tây. 1.2.1 Hà Tây - vùng đất nghề nổi tiếng. Các làng nghề truyền thống Hà Tây được hình thành chủ yếu trên cơ sở các nghệ nhân từ nơi khác đến truyền nghề cho dân làng. Những nghệ nhân này thường được các làng nghề tôn là tổ nghề và sau khi chết được tôn phụng và lập miếu thờ hoặc ghi nhận dưới hình thức văn tự, hoặc truyền miệng. Ví dụ, làng nghề dệt lụa Vạn Phúc, tổ nghề là một người họ Lã có công đem bí quyết dệt lụa của Trung Quốc về dạy cho những người trong làng. Quá trình hình thành và phát triển của làng nghề dần dần dẫn đến việc hình thành những tập quán, tục lệ của làng nghề truyền thống. Một số làng nghề được hình thành do một số cá nhân hay gia đình có kỹ năng, sự sáng tạo hoặc xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống hàng ngày. Sau đó được hoàn thiện và phát triển lên, do có sự thành công trong sản xuất kinh doanh, nhu cầu sản xuất, học nghề...mà nghề đó được mở rộng và truyền nghề cho cư dân trong làng và dần hình thành nên các làng nghề. Ví dụ như làng nghề dệt đũi tơ tằm thôn Cống Xuyên. Dân làng nơi đây do không có kén để kéo sợi, phải đi mua kén ở các tỉnh như Thái Bình, Hoà Bình, Sơn La...về kéo sợi dệt, rồi chuội, là, đóng tấm, đưa đi xuất khẩu. Một số làng nghề do trong làng có người đi nơi khác học nghề rồi về dạy cho gia đình, họ hàng và mở dần nghề ra khắp làng. Hà Tây là đất học và có nhiều người làm quan có cơ hội đi lại nhiều nơi, tiếp xúc nhiều địa phương có những nghề thủ công khác nhau, thấy được những lợi thế của nghề phù hợp với điều kiện phát triển của địa phương mình nên học và đem nghề đó về truyền lại cho những người trong gia đình, cho quê hương và những người này cũng được nhân dân trong làng tôn thành ông tổ nghề. Ví dụ như ông tổ nghề thêu Lê Công Thành của làng thêu Quất Động, ông đỗ tiến sĩ và học được nghề thêu của địa phương khác về truyền lại cho dân làng...Hoặc là những người có cơ hội đi sống ở những nơi k

Tin mới nhất

Trang