Lịch sử tải xuống

STT Thành viên Thời gian
1 vũ đức ngọc Chủ nhật, Tháng 4 24, 2016 - 22:14
2 thuy le Thứ ba, Tháng 5 17, 2016 - 09:27
3 chu anh Thứ sáu, Tháng 7 8, 2016 - 16:53

Tìm hiểu việc khai thác tài nguyên văn hóa của tỉnh Nghệ An để phục vụ cho phát triển du lịch

Ảnh của Trương Thế Diệu
Truong The Dieu(2,424 tài liệu)
(0 người theo dõi)
Lượt xem 26
3
Tải xuống
(Lịch sử tải xuống)
Image CAPTCHA
Nhập các ký tự hiển thị trong ảnh.
Số trang: 192 | Loại file: DOC
  • M c l c
    M đ u………………………………….…………………………………………4
    1.Lý do ch n đ tài………………………………………………………..………4
    2.M c đích, ý nghĩa c a đ tài…………………………………………..………...5
    3.Đ i t ng và ph m vi nghiên ư
    c u……………………………………………….6
    4.Ph ng pháp nghiên c u…………………………………………….…………..7ươ
    5.B c c lu n văn………………………………………………………………….8
    6.Đóng góp c a lu n văn…………………………………………….……………8
    Ch ng 1: Tài nguyên văn hoá c a t nh Ngh An………………….……………11ươ
    1.1. Khái quát v t nh Ngh An…………………………………………………..11
    1.1.1.L ch s hình thành và phát tri n c a Ngh
    An……………………………..11
    1.1.2.V trí đ a lý và các đi u ki n t nhiên………………………………………
    18
    1.1.3. Đi u ki n kinh t , văn hoá, ế
    h i………………………………………….23
    1.2. Tài nguyên văn hoá v t
    th …………………………………………………...28
    1.2.1.Các di tích l ch s văn hoá và cách m ng tiêu bi u…………………………
    28
    1.2.2. Các công trình ki n trúc, mĩ thu t tiêu ế
    bi u………………………………..33
    1.2.3. Các danh lam th ng c nh tiêu bi u…………………………………………
    36
    1
  • 1.3. Tài nguyên văn hoá phi v t
    th ……………………………………………….38
    1.3.1. Phong t c t p quán tiêu
    bi u………………………………………………..38
    1.3.2. L h i tiêu
    bi u…………………………………………………………….41
    1.3.3. Các tôn giáo, tín ng ng tiêu ưỡ
    bi u………………………………………….44
    1.3.4. Các làng ngh truy n
    th ng………………………………………………...46
    1.3.5. m th c truy n th ng tiêu
    bi u…………………………………………….49
    1.3.6. Ngh thu t di n x ng tiêu ướ
    bi u…………………………………………...53
    1.4. Ti u k t........................................................................................................55 ế
    Ch ng 2: Th c tr ng khai thác tài nguyên văn hoá ph c v phátươ
    tri n du l ch c a Ngh An……………………………………………………….58
    2.1. T ch c qu n lý khai thác tài nguyên văn hoá Ngh An…..
    ……………….58
    2.2. C s v t ch t k thu t ph c v cho phát tri n du l ch văn hoá..ơ
    …………….63
    2.3. Lao đ ng trong du l ch văn hóa t nh Ngh
    An……………………………….69
    2.4. Th c tr ng khai thác các s n ph m du l ch văn
    hóa………………………….74
    2
  • 2.4.1. Du l ch văn hóa bi n t i th xã C a
    Lò……………………………………..74
    2.4.2. Du l ch t i các di tích l ch s , văn hoá và cách m ng Ngh
    An………….80
    2.4.3. Du l ch t i các công trình ki n trúc, mĩ thu t tiêu bi u Ngh ế
    An………...83
    2.4.4. Du l ch t i các danh lam th ng c nh tiêu bi u Ngh An…………………
    84
    2.4.5. Du l ch l h i Ngh
    An…………………………………………………...86
    2.4.6. Du l ch làng ngh Ngh An………………………………………………
    89
    2.4.7. Ngh thu t di n x ng trong du l ch Ngh ướ
    An…………………………..92
    2.4.8. m th c truy n th ng trong du l ch Ngh An……………………………
    94
    2.5. Th tr ng khách du l ch văn hoá t i t nh Ngh An….……………………… ườ
    97
    2.6. Đánh giá chung vi c khai thác tài nguyên văn hoá ph c v phát
    tri n du l ch c a Ngh An……………………………….………………………
    103
    2.7.Ti u k t……………………………………………….……………………..106 ế
    Ch ng 3. M t s gi i pháp góp ph n nâng cao hi u qu khai thácươ
    ngu n tài nguyên du l ch văn hoá t nh Ngh An………….…………………108
    3.1. Nh ng căn c đ ra gi i pháp………….………………….……………….108
    3.1.1. Căn c lý thuy t……………………….…………………………………108 ế
    3.1.2. Căn c th c ti n………………………………….………………………109
    3

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 24/04/2016 , 18:22

Mô tả tài liệu:

Tìm hiểu việc khai thác tài nguyên văn hóa của tỉnh Nghệ An để phục vụ cho phát triển du lịch

CHƯƠNG 1: TÀI NGUYÊN VĂN HOÁ CỦA TỈNH NGHỆ AN 1.1. Khái quát về tỉnh Nghệ An 1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Nghệ An Lịch sử Nghệ An nằm trong dòng chảy lịch sử dân tộc, các thế hệ cha ông nơi đây đã góp phần cùng nhân dân cả nước dựng nên nền văn minh sông Hồng, văn minh Đại Việt, chinh phục cải tạo tự nhiên, xây dựng xóm làng, chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc. Từ thời tiền sử, các di tích khảo cổ cho thấy dấu tích của người vượn cổ phát hiện ở hang Thẩm Ồm, Thẳm Bua, Đồng Bua huyện Quỳ Châu có niên đại cách đây hai mươi vạn năm. Một số dấu tích người tối cổ ở đồi Dùng, đồi Rạng thuộc nền văn hóa Sơn Vi, cho đến văn hóa Hòa Bình, miền ven biển thuộc văn hóa Quỳnh Văn…Họ sống bầy đàn, hái lượm, săn bắt bằng công cụ thô sơ, cư trú vùng núi phía Tây và trung du. Nền nông nghiệp nương rẫy, lúa nước dần hình thành. Đến thời Văn Lang - Âu Lạc cùng với các tộc người khác ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc và đồng bằng Bắc Bộ, các tộc người cổ cùng xây dựng đất nước Văn Lang – Âu Lạc, họ lao động và đạt nhiều thành quả nhất định như trình độ tinh xảo trong kỹ thuật chế tác đá và khai thác, luyện đồng tạo nên công cụ lao động, vũ khí, nhạc cụ…Sự phát triển của nghề luyện kim thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế và dẫn đến chuyển biến sâu xa trong đời sống xã hội. Cơ sở kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lúa nước, hái lượm săn bắn, đánh cá, chăn nuôi, làm gốm, dệt vải. Đặc biệt là chế tác kim loại, luyện kim là ngành thủ công tác động to lớn đến kinh tế, xã hội của Nghệ An thời đó. Con người sống gắn bó quan hệ cộng đồng làng xóm, họ tổ chức hội hè, ca nhạc từ trống đồng, khèn, sáo, chuông, hát dân ca, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng…tạo nên nền văn minh Đông Sơn và công cuộc dựng nước, giữ nước của các vua Hùng, vua Thục gắn liền với những dấu ấn sâu đậm của kho tàng huyền thoại và một số di tích lịch sử văn hóa. Năm 179 trước công nguyên, cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Triệu Đà do An Dương Vương lãnh đạo bị thất bại. Đất nước rơi vào ách thống trị phong kiến phương Bắc kéo dài hơn 1000 năm. Nghệ An trở thành châu, quận huyện trong quá trình sát nhập, đồng hóa của đế chế Đại Hán. Đời Triệu thuộc huyện Cửu Chân, huyện Hàm Hoan thuộc quận Giao Chỉ đời Hán, là quận Cửu Đức gồm sáu huyện đời Ngô, tám huyện đời Tấn, 10 huyện đời Tống, 7 huyện đời Tề, là quận Đức Châu đời Lương, quận Nhật Nam đời Tùy, là Hoan Châu, Diễn Châu và Phúc Lộc Châu đời Đường. Chính quyền đô hộ khắc nghiệt, vơ vét của cải, sức người, người dân phải cống nộp đặc sản hoa quả nổi tiếng như vải, nhãn, cam, lâm thổ sản quý như gỗ quý, sừng tê giác, ngà voi, chim công…Nhân dân vùng lên khởi nghĩa, cùng với nhân dân cả nước kiên cường chống lại phong kiến Trung Quốc. Mở đầu là khởi nghĩa Hai Bà Trưng và nhiều cuộc khởi nghĩa khác. Năm 722, Mai Thúc Loan khởi nghĩa giành đánh đuổi nhà Đường giành độc lập hơn 10 năm và lấy căn cứ ở Sa Nam, Nam Đàn. Ông cho xây thành Vạn An và đưa quân từ Hoan Châu ra Bắc chiếm phủ Tống Bình (Hà Nội). Năm 905, Khúc Thừa Dụ dựng nền tự chủ đến 938, Nghệ An luôn là hậu phương trong công cuộc đấu tranh giành độc lập. Dưới triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, Nghệ Tĩnh là vùng biên giới phía Nam giáp với Chăm Pa. Thời Lý Thái Tông năm (1030) lấy tên Nghệ An thay cho tên Hoan Châu. Thời Trần, Nghệ An đổi thành trấn Lâm An và Diễn Châu đổi thành trấn Vọng Giang. Trong thời kỳ độc lập này, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của Nghệ An thấp hơn so với vùng đồng bằng sông Hồng. Việc di dân, khai thác đất đai, cư dân đông đúc, nhiều làng mạc ra đời, phát triển nông nghiệp lúa nước và xây dựng các công trình thủy lợi, kênh mương nối liền sông. Thời Trần nơi đây có học trò ưu tú tham gia thi Hội, thi Đình đỗ trạng nguyên và nhiều nhà văn hóa nổi tiếng. Năm 1279, xây dựng đền Cờn ở Quỳnh Lưu là kiến trúc tín ngưỡng dân gian đầu tiên của Nghệ An. Nghệ An là hậu phương quan trọng đóng góp nhiều nhân tài, quân binh, lương thảo trong kháng chiến chống Tống và quân Nguyên Mông, phía Nam thì chống xâm phạm của quân Chăm Pa ở giữa thế kỷ XIV. Thế kỷ XV, Nghệ An là căn cứ chủ yếu hai cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng, Nguyễn Vĩnh Lộc. Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn, Thanh Hóa. Năm 1424, nghĩa quân Lam Sơn tiến vào đóng quân ở Nghệ An, nhờ sức người quân Lam Sơn tiêu diệt toàn bộ quân địch và xây thành Lục Niên ở núi Thiên Nhẫn làm căn cứ và thừa thắng tấn công ra Bắc giành được thắng lợi, cuối năm 1427, Vương Thông rút quân về nước, quân Lam Sơn toàn thắng. Năm 1969, Lê Thánh Tông hợp Nghệ An và Diễn Châu thành thừa tuyên Nghệ An gồm 9 phủ, 25 huyện, 2 châu, ở thời này tình hình tương đối ổn định. Về kinh tế, chính sách khuyến nông, chiêu dân lập ấp, khai hoang, cày cấy. Thủ công nghiệp phát triển như nghề gạch ngói, dệt, ở Quỳnh Đôi, rèn sắt Nho Lâm, Diễn Châu, gốm Chợ Bộng, Yên Thành, mộc ở Nam Đàn…Chợ hình thành giao thương tấp nập. Về giáo dục văn hóa, vua Lê Thánh Tông cho lập trường thi Hương, tổ chức hơn 100 khoa thi, có 57 người đỗ tiến sỹ, đưa Nghệ An thành xứ văn vật, giao lưu văn hóa các địa phương khác, các phong tục được bảo tồn. Sang thế kỷ XVI đến XVIII, Nghệ An bước sang thời kỳ chiến tranh Trịnh Mạc, Trịnh Nguyễn phải chịu nhiều hậu quả nặng nề giữa sự tranh chấp của các thế lực phong kiến. Người dân phải chịu ách áp bức bóc lột, phải chịu đói khổ và chiến tranh, nhiều cuộc khởi nghĩa của dân bị đàn áp dã man. Phong trào Tây Sơn của Nguyễn Huệ nổ ra, sau khi tiêu diệt quân Xiêm, tiến ra Bắc ba lần tiêu diệt tập đoàn phong kiến nhà Trịnh đã dừng trên đất Nghệ An tuyển quân và được nhân dân hết sức ủng hộ cả về vật chất và nhân lực. Quang

Tin mới nhất

Trang