Lịch sử tải xuống

STT Thành viên Thời gian
1 bớp ngọc Thứ ba, Tháng 5 10, 2016 - 21:24
2 chu anh Thứ sáu, Tháng 7 8, 2016 - 16:48

Thực trạng phát triển ngành dịch vụ trên địa bàn Thành phố Viêng Chăn

Ảnh của Trương Thế Diệu
Truong The Dieu(2,424 tài liệu)
(0 người theo dõi)
Lượt xem 10
2
Tải xuống
(Lịch sử tải xuống)
Image CAPTCHA
Nhập các ký tự hiển thị trong ảnh.
Số trang: 153 | Loại file: DOC
  • L I M Đ U
    1. S c n thi t c a đ tài ế
    Phát tri n ngành d ch v là m t xu h ng t t y u đang di n ướ ế
    ra trên th gi i. Đó m t trong nh ng m c tiêu r t quan tr ngế
    trong vi c phát tri n kinh t đ t n c. Trong đi u ki n h i nh p ế ướ
    kinh t qu c t , d ch v s ngày càng đóng góp t tr ng l n vàoế ế
    s phát tri n kinh t đ t n c. B i d ch v v a c u n i gi a ế ướ
    các y u t “đ u vào” “đ u ra” trong quá trình s n xu t, thúcế
    đ y phân công lao đ ng h i, v a tác đ ng tích c c đ n s ế
    phát tri n c b n, toàn di n c a các ngành công nghi p nông ơ
    nghi p. Thành ph Viêng Chăn vùng tr ng đi m phát tri n
    công nghi p c a n c Lào, thu hút ngày càng nhi u lao đ ng đ n ướ ế
    sinh s ng nên nhu c u v d ch v tăng nhanh. Th c t trên đ a ế
    bàn Thành ph Viêng Chăn th i gian qua, c c u ngành d ch v ơ
    chuy n bi n tích c c, phát tri n c v chi u r ng l n chi u ế
    sâu, thu hút đ c s tham gia c a nhi u thành ph n kinh t tượ ế
    tr ng đóng góp GDP c a ngành không ng ng tăng cao. Tuy nhiên
    quy c a ngành d ch v trên đ a bàn Thành ph Viêng Chăn
    còn nh bé, ch a phát tri n t ng x ng v i ti m năng, nhi u th ư ươ
    tr ng tiêu th còn b ng . S tác đ ng c a ngành d ch v t iườ ụ ớ
    chuy n d ch c c u kinh t c a Thành ph Viêng Chăn không ơ ế
    cao còn h n ch trong vi c đ m b o tính n đ nh c a c c u ế ơ
    kinh t trong vùng đ ng th i s g n k t gi a các ngành d ch vế ế
  • ch a đ c ch t ch , nhi u lo i hình d ch v còn n m ngoài t mư ượ
    ki m soát c a chính quy n.
    2. Đ i t ng, ph m vi nghiên c u ượ
    T góc đ kinh t - chính tr , nghiên c u s phát tri n ngành ế
    d ch v v i t cách m t ho t đ ng kinh t đ c thù, m t khâu ư ế
    trong quá trình tái s n xu t.
    Đ tài t p trung nghiên c u s phát tri n ngành d ch v trên
    đ a bàn Thành ph Viêng Chăn.
    3. M c tiêu nghiên c u
    - Phân ch làm nh ng khái ni m v ngành d ch v s
    c a phát tri n ngành d ch v , làm sáng t tính quy lu t c a s
    phát tri n ngành d ch v .
    - Phân tích th c tr ng phát tri n ngành d ch v trên đ a bàn
    Thành ph Viêng Chăn, trên c s đó đ xu t gi i pháp phát tri n ơ
    ngành d ch v trên đ a bàn Thành ph Viêng Chăn.
    4. Ph ng pháp nghiên c uươ
    - S d ng ph ng pháp duy v t bi n ch ng. ươ
    - Ngoài ra, s d ng các ph ng pháp nghiên c u kinh t ươ ế
    đ c tr ng, ph ng pháp th ng k , phân tích, t ng h p, d báo… ư ươ ế
    5. D ki n nh ng đóng góp c a lu n văn ế
    - Góp ph n làm h n lu n v ngành d ch v s phát ơ
    tri n ngành d ch v .
  • - Phân tích th c tr ng ngành d ch v trên đ a bàn Thành
    ph Viêng Chăn đ t đó tìm ra nh ng nguyên nhân h n ch s ế
    phát tri n ngành d ch v đây.
    - Đ xu t các gi i pháp nh m phát tri n ngành d ch v trên
    đ a bàn Thành ph Viêng Chăn.
    6. K t c u c a lu n vănế
    Ngoài ph n m đ u, các ph l c danh m c tài li u tham
    kh o, đ tài đ c trình bày g m 3 ch ng nh sau: ượ ươ ư
    Ch ng 1: C s lu n v phát tri n các ngành d ch vươ ơ
    trên đ a bàn Thành ph Viêng chăn.
    Ch ng 2: Th c tr ng phát tri n ngành d ch v trên đ aươ
    bàn Thành ph Viêng Chăn.
    Ch ng 3: Ph ng h ng gi i pháp phát tri n ngànhươ ươ ướ
    d ch v trên đ a bàn Thành ph Viêng Chăn.
    CH NG 1.ƯƠ
    C S LÝ LU N V PHÁT TRI N CÁC NGÀNH D CHƠ
    V TRÊN Đ A BÀN THÀNH PH VIÊNG CHĂN
    1.1. Ngành d ch v s c n thi t phát tri n ngành d ch v ế
    trên đ a bàn thành ph viêng chăn
    1.1.1. Khái ni m, phân lo i và vai trò c a ngành d ch v
    1.1.1.1. Khái ni m ngành d ch v

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 10/05/2016 , 20:55

Mô tả tài liệu:

Thực trạng phát triển ngành dịch vụ trên địa bàn Thành phố Viêng Chăn

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VIÊNG CHĂN 1.1. Ngành dịch vụ và sự cần thiết phát triển ngành dịch vụ trên địa bàn thành phố viêng chăn 1.1.1. Khái niệm, phân loại và vai trò của ngành dịch vụ 1.1.1.1. Khái niệm ngành dịch vụ Tuy nhận thức chung về dịch vụ tương đối đồng nhất nhưng khái niệm về dịch vụ là một vấn đề chưa hoàn toàn sáng tỏ. Mỗi một khái niệm xuất phát từ sự nhìn nhận về dịch vụ trên một khía cạnh khác nhau nên luôn có sự khác nhau nhất định. Theo quan điểm truyền thống thì dịch vụ là “những sản phẩm vô hình được sản xuất để đáp ứng một nhu cầu nào đó của người tiêu dùng vì mục đích sinh lời. Trước đây theo quan điểm của các nhà kinh tế thì của cải vật chất được hình thành trong xã hội là do các ngành sản xuất đem lại, như các ngành nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng… Trong khi đó, các ngành dịch vụ được coi là không tạo ra giá trị mới và do vậy sản phẩm của ngành này được coi là vô hình. Tuy nhiên, định nghĩa này cũng dựa trên tính chất cơ bản của dịch vụ và làm rõ được 2 vấn đề: Thứ nhất, dịch vụ là một sản phẩm, là kết quả của quá trình lao động và sản xuất nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người. Thứ hai, khác với hàng hóa, thuộc tính của dịch vụ là vô hình. Dịch vụ không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất dưới dạng những sản phẩm hữu hình nhưng chúng lại tạo ra giá trị thặng dư do có sự khai thác sức lao động, tri thức, chất xám của con người. Dịch vụ kết tinh các hoạt động đa dạng trên các lĩnh vực như tài chính, vận tải, bảo hiểm, kiểm toán, kế toán, tư vấn luật… Khác với hàng hóa là cái hữu hình, dịch vụ là vô hình và phi vật chất. Chính điểm khác nhau cơ bản này giữa sản phẩm hàng hóa hữu hình với sản phẩm dịch vụ vô hình đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới cách thức tiến hành các hoạt động thương mại hàng hóa và hoạt động thương mại dịch vụ ở phạm vi từng quốc gia cũng như phạm vi quốc tế. Vì dịch vụ là vô hình nên các quốc gia đã tốn không ít thời gian và công sức để xây dựng được các quy chuẩn pháp lý điều chỉnh các hoạt động cung ứng dịch vụ nói chung và các hoạt động thương mại dịch vụ nói riêng. Hiện nay có một định nghĩa khác mang tính tổng quát hơn được thừa nhận nhiều hơn, đó là: Dịch vụ là hoạt động làm thay đổi điều kiện và chất lượng của một chủ thể do tác động của chủ thể khác nhằm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể đó. Theo đó, dịch vụ không sinh ra nếu không có sự tách rời giữa chủ thể tiêu dùng và chủ thể cung cấp. Ví dụ: Một doanh nghiệp tự mình thực hiện khép kín các công đoạn sản xuất cho ra một sản phẩm. Trường hợp này không phát sinh dịch vụ. Ngược lại, doanh nghiệp đó thuê lại một doanh nghiệp khác thực hiện một công đoạn trong chu trình đó như phân phối, thiết kế, kiểm toán… Khi đó dịch vụ đã xuất hiện. Xã hội ngày càng phát triển, tính chuyên môn hóa càng cao thì sự tách rời giữa công đoạn trong một chu trình sản xuất đã tạo nên các ngành dịch vụ mới. Đôi khi ta rất khó khăn khi phân biệt một sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ do sự đan xen giữa chúng. Nhìn chung, trên góc độ quản lý, các nước chấp nhận liệt kê một danh mục các sản phẩm dịch vụ hơn là chỉ đơn thuần xuất phát từ khái niệm, ví dụ như Hệ thống phân loại hàng hóa chủ yếu (CPC) của Liên Hiệp Quốc. Dịch vụ có các đặc điểm chủ yếu sau đây: Thứ nhất, dịch vụ là vô hình nên khó xác định: Quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm hữu hình có tính chất cơ, lý, hóa… Nhất định, có tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể và do đó có thể sản xuất theo tiêu chuẩn hóa. Khác với hàng hóa, sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất bằng những vật phẩm cụ thể, không cầm nắm được và do đó khó có thể xác định chất lượng dịch vụ trực tiếp bằng những chỉ tiêu kỹ thuật được lượng hóa. Chính vì vậy các công tác lượng hóa, thống kê, đánh giá chất lượng và quy mô cung cấp dịch vụ của một công ty, nếu xét ở tầm vĩ mô trở nên khó khăn hơn so với hàng hóa hữu hình rất nhiều. Thứ hai, quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời. Trong nền kinh tế hàng hóa, sản xuất hàng hóa tách khỏi lưu thông và tiêu dùng. Do đó, hàng hóa có thể được lưu kho để dự trữ, có thể vận chuyển đi nơi khác theo cung cầu của thị trường. Khác với hàng hóa, quá trình cung ứng dịch vụ gắn liền với tiêu dùng dịch vụ. Thông thường, việc cung ứng dịch vụ đòi hỏi sự tiếp xúc trực tiếp giữa người cung ứng và người tiêu dùng dịch vụ. Thứ ba, dịch vụ không lưu trữ được. Do sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời nên không thể sản xuất được dịch vụ hàng loạt và lưu giữ trong kho sau đó mới tiêu dùng. Với cách hiểu đó, dịch vụ là sản phẩm không lưu trữ được và trong cung ứng dịch vụ không có khái niệm tồn kho hoặc dự trữ sản phẩm dịch vụ. Thứ tư, dịch vụ có tính không bị hư hỏng. Do sản phẩm dịch vụ sản xuất ra được tiêu dùng ngay do vậy dịch vụ không thể hư hỏng được. Đây là những đặc điểm cơ bản để phân biệt sản phẩm dịch vụ vô hình với sản phẩm hàng hóa hữu hình. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng sẽ không tồn tại một sự phân biệt tuyệt đối. Chẳng hạn, một số loại hình dịch vụ khi kết thúc quá trình cung ứng sẽ tạo ra sản phẩm có hình thái vật chất như bản photocopy. Hệ thống dịch vụ trả lời điện thoại tự động không đòi hỏi sự tiếp xúc trực tiếp giữa người cung ứng dịch vụ và người tiêu dùng dịch vụ, về một mặt nào đó có thể coi là sản phẩm “lưu trữ được”. Hầu như trong mọi hoạt động cung ứng dịch vụ đều có sự xuất hiện của các sản phẩm hữu hình như là các yếu tố phụ trợ. Cũng như vậy, khi tiến hành mua bán trao đổi bất kỳ hàng hóa hữu hình nào cũng đều cần đến các dịch vụ hỗ trợ. Người ta thấy rằng sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các ngành kinh tế trở nên thực sự khó khăn. Điều này cũng giải thích rằng sự phân biệt giữa dịch vụ và hàng hóa chỉ mang tính chất tương đối. Dịch vụ và hàng hóa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Quá trình hình thành và phát triển của phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng thì các ngành dịch vụ cũng sẽ được hình thành và phát triển nhiều hơn, đa dạng hơn. Nếu như trước đây, nói đến một nền kinh tế người ta chỉ nói đến hai lĩnh vực then chốt là công nghiệp và nông nghiệp thì ngày nay lĩnh vực được quan tâm đến nhiều cũng như chiếm tỷ trọng lớn nhất trong GDP lại là lĩnh vực dịch vụ. 1.1.1.2. Phân loại ngành dịch vụ Vấn đề phân loại dịch vụ hiện nay trên thế giới có rất nhiều cách phân chia ngành dịch vụ khác nhau tùy thuộc vào mục đích khác nhau. Các tiêu thức để phân chia ngành dịch vụ: Dịch vụ mang tính thương mại và dịch vụ không mang tính thương mại: Dịch vụ mang tính thương mại là những dịch vụ được thực hiện, được cung ứng nhằm mục đích thu lợi nhuận và vì mục tiêu là kinh doanh. Ví dụ dịch vụ quảng cáo để bán hàng, dịch vụ môi giới… Dịch vụ không mang tính chất thương mại (dịch vụ phi thương mại) là những dịch vụ được cung ứng không nhằm mục đích kinh doanh, không vì mục đích thu lợi nhuận. Những dịch vụ này bao gồm các dịch vụ công cộng, thường do các Đoàn thể, các tổ chức xã hội phi lợi nhuận cung ứng hoặc do các cơ quan Nhà nước cung ứng khi cơ quan này thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. Cách phân loại này giúp chúng ta xác định mục tiêu, đối tượng và phạm vi của ngành dịch vụ. Không phải tất cả các loại dịch vụ đều có thể được trao đổi hay mua bán. Rất nhiều dịch vụ không thể thương mại hóa được, ví dụ như dịch vụ công cộng. Chỉ khi nào dịch vụ trở thành một “hàng hóa” thực sự (hàng hóa vô hình), được mua bán, trao đổi (cung cấp) trên thị trường theo đúng quy luật cung cầu và các quy luật của thị trường như các hàng hóa hữu hình khác thì lúc đó dịch vụ mới trở thành đối tượng của thương mại dịch vụ. Dịch vụ về hàng hóa và dịch vụ về tiêu dùng Dựa vào mục tiêu của dịch vụ người ta chia dịch vụ thành 4 nhóm sau: Dịch vụ phân phối: Vận chuyển, lưu kho, bán buôn, bán lẻ, quảng cáo môi giới… Dịch vụ sản xuất: Ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, các dịch vụ về kỹ sư kiến trúc công trình, dịch vụ kế toán kiểm toán, dịch vụ pháp lý… Dịch vụ xã hội: Dịch vụ sức khỏe, y tế, giáo dục, bưu chính viễn thông, các dịch vụ nghe nhìn và các dịch vụ xã hội khác. Dịch vụ cá nhân: dịch vụ sửa chữa, dịch vụ khách sạn nhà hàng, các dịch vụ giải trí, dịch vụ du lịch văn hóa. Bằng cách phân loại trên, chúng ta phân biệt được dịch vụ về hàng hóa mang tính chất thương mại với các dịch vụ về tiêu dùng mang tính chất thương mại và mang tính chất không thương mại (dịch vụ cá nhân và xã hội). Dịch vụ thương mại bao gồm các dịch vụ về hàng hóa (dịch vụ phân phối và dịch vụ sản xuất) như phân loại ở trên, nghĩa là bao gồm các dịch vụ phục vụ cho việc sản xuất mua bán, trao đổi hàng hóa trên thị trường như vận chuyển hàng hóa, lưu kho hàng hóa, bán buôn, bán lẻ, quảng cáo, môi giới, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, các dịch vụ về kỹ sư và kiến trúc công trình, dịch vụ kế toán kiểm toán, dịch vụ pháp lý… Dịch vụ tiêu dùng mang tính chất thương mại như dịch vụ khách sạn, dịch vụ du lịch… Dịch vụ tiêu dùng không mang tính chất thương mại như dịch vụ văn hóa, dịch vụ giải trí, dịch vụ vệ sinh môi trường… Thương mại dịch vụ Thương mại dịch vụ (tiếng Anh là trade in service) là khái niệm chỉ các hoạt động thương mại trong lĩnh vực dịch vụ hay khái niệm dùng để nhấn mạnh khía cạnh thương mại, tính chất thương mại trong lĩnh vực dịch vụ hay nói cách khác thương mại dịch vụ là sự trao đổi dịch vụ giữa các cá nhân tổ chức với nhau vì mục đích kinh doanh sinh lời. Như vậy thương mại dịch vụ khác với thương mại hàng hóa ở đối tượng trao đổi, đối với thương mại hàng hóa thì đối tượng trao đổi là hàng hóa - các sản phẩm hữu hình, còn đối với thương mại dịch vụ thì đối tượng trao đổi lại là dịch vụ - các sản phẩm

Tin mới nhất

Trang