Lịch sử tải xuống

STT Thành viên Thời gian
1 Kết Nối Chủ nhật, Tháng 6 19, 2016 - 12:41
2 lê thị phương Thứ hai, Tháng 8 8, 2016 - 15:11
3 Hoàng Sơn Thứ hai, Tháng 7 17, 2017 - 20:26

Một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả quản lý phát triển đô thị bền vững

Ảnh của Trương Thế Diệu
Truong The Dieu(2,424 tài liệu)
(0 người theo dõi)
Lượt xem 8
3
Tải xuống
(Lịch sử tải xuống)
Image CAPTCHA
Nhập các ký tự hiển thị trong ảnh.
Số trang: 91 | Loại file: DOC
  • L I M Đ U
    Ngày này trên th gi i, thu t ng ế Phát tri n b n v ng đã
    không còn xa l so v i nh ng th p k cu i c a th k tr c, nh t ế ướ
    trong nh ng năm 70 khi phong trào b o v môi tr ng th ườ ế
    gi i đã có nh ng thành t u b c đ u. Cho đ n năm 1987, trong Báo ướ ế
    cáo T ng lai c a chúng taươ c a H i đ ng Th gi i v Môi ế
    tr ng Phát tri n (WCED) c a Liên H p Qu c, c m t ườ phát
    tri n b n v ng ” đã đ c đ nh nghĩa là “ượ s phát tri n đáp ng đ c ượ
    yêu c u c a hi n t i, nh ng không gây tr ng i cho vi c đáp ng ư
    nhu c u c a các th h mai sau ế ”.
    Cho đ n nay, c m t ế phát tri n b n v ng ” còn đ c s d ngượ
    cho nhi u lo i hình b n v ng khác nhau trong đ i s ng h i trên
    th gi i, trong đó lo i hình phát tri n đô th đô th hoá: ế Phát
    tri n đô th b n v ng ”. Vi t Nam cũng không n m ngoài xu th đó. ế
    Tuy nhiên xu th này cũng nói lên nh ng yêu c u b c xúc trong th cế
    t qu n lý đô th phát tri n b n v ngế
    Đ i v i m i qu c gia trên th gi i nói chung Vi t Nam nói ế
    riêng, thì v n đ qu n phát tri n không gian đô th , qu n phát
    tri n đô th đã đang đ t ra nhi u v n đ đáng l u ý. Đ ng tr c ư ướ
    th c t đó, em ch n đ tài: ế “M t s gi i pháp nh m tăng c ng ườ
    hi u qu qu n lý phát tri n đ « th b n v ng” . Bài vi t này nh mế
    đ a ra m t cái nhìn t ng quát v tình hình phát tri n đô th Vi tư
    Nam, cùng v i nh ng đi u đã, đang ch a làm đ c trong vi c ư ượ
    qu n đô th Vi t Nam hi n nay nh m m c tiêu h ng t i m t đô ướ
  • th b n v ng. Trong quá trình th c hi n bài vi t này m c dù đã nh n ế
    đ c s giúp đ t n tình c a th y giáo h ng d n các chú,ượ ỡ ậ ướ
    anh ch t i đ a đi m th c t p, v n không tránh kh i nh ng h n ch ế
    nh t đ nh. Em r t mong nh n đ c s góp ý c a th y cô, cũng nh ượ ư
    các anh ch , cô chú.
    Bài vi t này g m có ba ph n:ế
    Ph n M t: L i m đ u
    Ph n Hai: Ph n n i dung
    Ch ng I: C s lu n c a các v n đ qu n qu n ươ ơ
    phát tri n đô th b n v ng
    Ch ng II: Th c tr ng qu n lý đô th Vi t Nam hi n nayươ
    Ch ng III: Qu n lý phát tri n đô th b n v ng Vi t Namươ
    Ph n Ba: K t lu n ế
    Em cùng c m n s giúp đ nhi t tình c a Ban Lãnh đ o ơ
    Vi n, các phòng ban ch c năng đ c bi t Ban T ng h p. Em xin
    chân thành c m n th y PGS.TS. Phan Kim Chi n đã t n tình ơ ế
    h ng d n em hoàn thành bài vi t này.ướ ế
    Hà N i, ngày 09 tháng 04 năm 2006
    Sinh viên th c hi n:
    Phothilath Sikhotchounlamaly
  • CH NG IƯƠ
    C S LÝ LU N C A CÁC V N Đ QU N LÝ Ơ
    QU N LÝ PHÁT TRI N ĐÔ TH B N V NG
    I. M T S LÝ LU N V QU N LÝ ĐÔ TH
    1. Khái ni m v qu n lý đô th phát tri n b n v ng.
    Qu n đô th phát tri n b n v ng m t v n đ h t s c ph c ế
    t p ph i xem xét t t c các v n đ phát sinh trong quá trình
    phát tri n đô th , t v n đ không gian và kinh t - xã h i. Vì v y có ế
    th đ nh nghĩa qu n lý đô th phát tri n b n v ng nh sau: ư
    “Qu n lý đô th phát tri n b n v ng là qu n lý s phát tri n m
    mang toàn di n v kinh t - hôi, không gian đ t đai cũng nh ế ư
    môi tr ng đô th .”ườ
    Đ i v i qu n không gian đô th , qu n phát tri n đô th
    v n đ qu n lý s phát tri n đ t đai có cung c p h t ng và d ch v
    ti n nghi đ c dân và doanh nghi p ho t đ ng đ c. ư ượ
    B c ti p theo c a qu n phát tri n đô th qu n s phátướ ế
    tri n v h t ng kinh t - h i. H t ng kinh t - h i bao g m ế ế
    c trung tâm công nghi p, d ch v cung ng, lao đ ng.
    2. Đ c đi m c a qu n lý đô th
    Qu n Đô th m t quá trình r t ph c t p mang nh ng đ c
    đi m riêng c a ngành trong quá trình hình thành phát tri n đô
    th . Do đó Qu n lý Đô th mang nh ng đ c đi m sau:
    - Qu n Đô th qu n mang tính toàn c c . Tính toàn c c
    cu Qu n Đô th th hi n ph m vi c a Qu n Đô th . Ph m
    vi đó th hi n đ i t ng c a Qu n lý Đô th quá trình phát tri n ượ

Thông tin tài liệu

Ngày đăng: 18/06/2016 , 14:57

Mô tả tài liệu:

Một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả quản lý phát triển đô thị bền vững

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG I. MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ 1. Khái niệm về quản lý đô thị phát triển bền vững. Quản lý đô thị phát triển bền vững là một vấn đề hết sức phức tạp vì nó phải xem xét tất cả các vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển đô thị, từ vấn đề không gian và kinh tế - xã hội. Vì vậy có thể định nghĩa quản lý đô thị phát triển bền vững như sau: “Quản lý đô thị phát triển bền vững là quản lý sự phát triển mở mang toàn diện về kinh tế - xã hôi, không gian đất đai cũng như môi trường ở đô thị.” Đối với quản lý không gian đô thị, quản lý phát triển đô thị là vấn đề quản lý sự phát triển đất đai có cung cấp hạ tầng và dịch vụ tiện nghi để cư dân và doanh nghiệp hoạt động được. Bước tiếp theo của quản lý phát triển đô thị là quản lý sự phát triển về hạ tầng kinh tế - xã hội. Hạ tầng kinh tế - xã hội bao gồm cả trung tâm công nghiệp, dịch vụ cung ứng, lao động. 2. Đặc điểm của quản lý đô thị Quản lý Đô thị là một quá trình rất phức tạp mang những đặc điểm riêng có của ngành trong quá trình hình thành và phát triển đô thị. Do đó Quản lý Đô thị mang những đặc điểm sau: - Quản lý Đô thị là quản lý mang tính toàn cục. Tính toàn cục cuả Quản lý Đô thị thể hiện ở phạm vi của Quản lý Đô thị. Phạm vi đó thể hiện ở đối tượng của Quản lý Đô thị là quá trình phát triển toàn diện về kinh tế, xã hội, không gian đất đai cũng như môi trường cuả đô thị. Phạm vi quản lý này được thể hiện trên bình diện quốc gia, nghĩa là quản lý theo một quy hoạch, chiến lược, kế hoạch tổng thể lớn đã được hoạch định bởi cơ quan có thẩm quyền. Tính toàn cục của Quản lý Đô thị xuất phát từ yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, từ sự phối hợp, điều hoà các mối quan hệ trong quá trình phát triển về kinh tế - xã hội - môi trường của một quốc gia. - Quản lý Đô thị là quản lý mang tính tổng thể.Tính tổng thể thể hiện ở chỗ nó cho phép thực hiện quản lý theo chiến lược, kế hoạch thống nhất như quy hoạch về nhà ở, về đất đai… chứ không quản lý cục bộ từng địa phương, từng khu vực, mặc dù quản lý địa phương và khu vực là độc lập nhưng vẫn phải tuân theo định hướng chung trong tổng thể định hướng phát triển kinh tế - xã hội đô thị được thể hiện trong các văn bản chính sách phát triển của Nhà nước. - Quản lý Đô thị mang tính quyền lực nhà nước. Quản lý Đô thị là sự quản lý của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đất đai, dân cư, lao động bền vững… của các cơ quan từ lập pháp, đến hành pháp và tư pháp, của các cấp chính quyền đối với quá trình phát triển đô thị. Quản lý Đô thị mang tính quyền lực Nhà nước nghĩa là, một mặt quản lý này lệ thuộc vào chính trị, xuất phát từ chỗ Nhà nước là trung tâm trong hệ thống chính trị - xã hội, là công cụ đặc biệt để thực hiện quyền lực chính trị (bao gồm: lập pháp, hành pháp, tư pháp) của giai cấp thống trị đối với giai cấp khác và xã hội. Mặt khác quản lý này được thực hiện bởi pháp luật đây là đặc điểm riêng có của Nhà nước đối với xã hội được phân biệt với các hình thức quản lý khác. Quản lý Đô thị cũng là một lĩnh vực quan trọng của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay, nó cũng phải được quản lý bằng pháp luật. - Quản lý Đô thị là quản lý phức hợp và đa dạng. Tính phức hợp và đa dạng thể hiện ở đối tượng quản lý, tính đa mục tiêu (tăng trưởng ổn định, bền vững); tính phong phú của các hình thức tác động, tính phụ thuộc vào môi trường quốc gia và quốc tế, tính gián tiếp của phương thức tác động. Đặc điểm này của Quản lý Đô thị đòi hỏi phải có một bộ máy quản lý tinh xảo, hoạt động có hiệu quả và có hiệu lực. - Quản lý Đô thị mang tính đa mục tiêu. Tính đa mục tiêu của Quản lý Đô thị thể hiện ở những mục tiêu mà Quản lý Đô thị hướng tới: công bằng xã hội, phát triển văn hoá, ổn định và nâng cao đời sống, xoá đói giảm nghèo, vấn đề môi trường, an ninh xã hội… II. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM 1. Hệ thống phân loại đô thị ở Việt Nam Đô thị được phân loại theo nhiều khía cạnh khác nhau tuỳ theo các mục đích nghiên cứu. Các tiêu thức thường được sử dụng để phân loại là: Quy mô dân số, cơ cấu lao động, chức năng hoạt động, tính chất hành chính, mức độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng. Với mục đích nghiên cứu ta có thể phân loại đô thị theo từng tiêu thức khác nhau hoặc kết hợp một số tiêu thức. - Theo chức năng kinh tế - xã hội, đô thị được chia thành: đô thị công nghiệp, đô thị thương mại, đô thị hành chính, đô thị du lịch, đô thị cảnh quan. - Theo quy mô dân số, đô thị có thể chia thành 5 loại như sau: Đô thị có quy mô dân số rất lớn > 1triệu dân Đô thị có quy mô dân số lớn 35 vạn - 1 triệu Đô thị có quy mô dân số trung bình 10 vạn - 35 vạn Đô thị có quy mô dân số trung bình nhỏ 3 vạn - 10 vạn Đô thị có quy mô dân số nhỏ < 3 vạn - Theo tính chất hành chính, chính trị: Thủ đô; Thành phố; Thị xã; Thị trấn. - Theo không gian: Nội thành; Nội thị; Ngoại ô. Không gian chịu tác động trực tiếp của nội thành; tuy nhiên thị trấn không có ngoại thành. Đô thị ở Việt Nam được phân thành 5 loại như sau: + Đô thị loại I: Quy mô rất lớn (Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ), là những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, du lịch, giao lưu quốc tế có vai trò thúc đẩy kinh tế của cả nước; dân số trên một triệu người. Có mật độ dân số 15.000 người/km2; lao động phi nông nghiệp trên 90% trở lên trong tổng số lao động Cơ sở kỹ thuật hạ tầng và mạng lưới các công trình công cộng hoàn chỉnh, đồng bộ. + Đô thị loại II: Quy mô lớn; là những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, du lịch, giao lưu quốc tế có vai trò thúc đẩy kinh tế của một vùng lãnh thổ. Dân số có từ 35 vạn người đến gần 1 triệu người, mật đọ dân số 12.000 người/km2; lao động phi nông nghiệp trên 90% trở lên trong tổng số lao động. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng tương đối hoàn chỉnh, tiến tới đồng bộ. + Đô thị loại III: Quy mô trung bình là những trung tâm kinh tế - chính trị, văn hoá, nơi sản xuất tiểu thủ công có vai trò thúc đẩy kinh tế của tỉnh; dân số 10-35 vạn người(vùng miền núi có thể thấp hơn). Mật độ dân số 10.000 người /km2, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 80% trở lên trong tổng số lao động. Cơ sở kỹ thuật và mạng lưới các công trình công cộng được đầu tư xây dựng từng phần. + Đô thị loại IV: Quy mô trung bình nhỏ, là những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, hoặc nơi chuyên sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp có vai trò thúc đẩy kinh tế của tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh. Dân số từ 3-10 vạn người. Mật độ dân số 8.000 người/km2, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 70% trở lên trong tổng số lao động. Đã và đang đầu tư xây dựng kỹ thuật hạ tầng và các công trình công cộng được xây dựng từng phần. + Đô thị loại V: Quy mô nhỏ; là những trung tâm tổng hợp của một huyện hay một vùng trong huyện có vai trò thúc đẩy kinh tế của cả nước; dân số dưới 3 vạn người. Mật độ dân số 6.000 người/km2, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 60% trở lên trong tổng số lao động. Bước đầu xây dựng một số công trình công cộng và kỹ thuật hạ tầng (bắt đầu xây dựng). * Hiện nay, Việt Nam có 708 đô thị và được phân ra về: - Phân về cấp hành chính có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 82 thành phố, thị xã thuộc tỉnh và số còn lại là thị trấn. - Về phân loại đô thị, có 2 thành phố đặc biệt, 2 thành phố loại I, 14 đô thị loại II, 20 đô thị loại III, 50 đô thị loại IV và 617 đô thị loại V. 2. Thực trạng và xu thế phát triển đô thị ở Việt Nam Trong quá trình phát triển đô thị ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới và khu vực, vấn đề phát triển đô thị ở Việt Nam cũng có những thuộc tính mang tính quy luật tương tự. Thuộc tính quy luật này, thường đem lại những tác động trái ngược nhau: tác động tích cực và tác động tiêu cực. Tác động tích cực: - Nó thúc đẩy cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hơn và góp phần làm cho tổng thu nhập quốc dân (GDP) ngày càng cao hơn. - Đầu tư cơ sở hạ tầng từ cấp quốc gia đến vùng và đô thị đều tăng đã tạo điều kiện thuận lợi trong sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển đô thị nói riêng, nhất là tại các khu kinh tế trọng điểm, các khu vực cửa khẩu, hải cảng lớn. - Hệ thống đô thị mới được mở rộng một cách toàn diện và khá vững chắc trên các mặt chủ yếu: quy mô dân số đô thị, phân cấp phân loại đô thị, hạ tầng đô thị, cấp thoát nước đô thị, phân rác và môi trường đô thị,… - Góp phần cho việc xoá đói giảm nghèo tại các

Tin mới nhất

Trang